15-03-2026 Chúa nhật tuần 4 Mùa Chay- “ĐỂ KỲ CÔNG CHÚA ĐƯỢC TỎ HIỆN”– Ga 9,1-41

443 lượt xem SỐNG LỜI CHÚA
“ĐỂ KỲ CÔNG CHÚA ĐƯỢC TỎ HIỆN”

“ĐỂ KỲ CÔNG CHÚA ĐƯỢC TỎ HIỆN”

Tin mừng: Ga 9,1-41 

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh.

2 Các môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”

3 Đức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.

4 Chúng con phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được.

5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?”

9 Có người nói: “Chính hắn đó!” Kẻ khác lại rằng: “Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!” Còn anh ta thì quả quyết: “Chính tôi đây!”

10 Người ta liền hỏi anh: “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?”

11 Anh ta trả lời: “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.”

12 Họ lại hỏi anh: “Ông ấy ở đâu?” Anh ta đáp: “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu.

14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát.

15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.”

16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát”; kẻ thì bảo: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Thế là họ đâm ra chia rẽ.

17 Họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Người là một vị ngôn sứ!”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi: “Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?”

20 Cha mẹ anh đáp: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh.

21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.”

22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.

23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói: “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng con đây, chúng con biết ông ấy là người tội lỗi.”

25 Anh ta đáp: “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!”

26 Họ mới nói với anh: “Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?”

27 Anh trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?”

28 Họ liền mắng nhiếc anh: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng con là môn đệ của ông Mô-sê.

29 Chúng con biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng con không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.”

30 Anh đáp: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi!

31 Chúng con biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy.

32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.

33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.”

34 Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng con ư?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?”

36 Anh đáp: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?”

37 Đức Giê-su trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.”

38 Anh nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.

39 Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?”

41 Đức Giê-su bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”

SỐNG LỜI CHÚA

Chúa Nhật IV Mùa Chay quen gọi là Chúa Nhật Laetare. Từ “Laetare” là tiếng Latin, là chữ đầu tiên của bài Ca Nhập Lễ hôm nay được trích từ Isaia (Is 66,10), có nghĩa là “hãy vui lên”. Giữa hành trình Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng con dừng lại để nhìn lại chặng đường đã đi qua, đồng thời hướng về lễ Vượt Qua đang đến gần. Niềm vui của ngày Chúa Nhật này là niềm vui của người ý thức mình đang ở trong tiến trình hoán cải và được dẫn về ánh sáng.

Bài Tin Mừng đọc trong Chúa Nhật hôm nay thật dài, xoay quanh câu chuyện một người mù bẩm sinh đã được Chúa Giêsu cho sáng mắt (x. Ga 9). Trong văn mạch của Tin Mừng Gioan, các sự kiện không chỉ dừng lại ở tính lịch sử, nhưng còn mang chiều kích biểu tượng. Nếu Chúa Nhật trước, chúng con nghe câu chuyện bên bờ giếng Giacóp về người phụ nữ Samari như hình ảnh của dân ngoại được mời gọi bước vào tương quan mới với Thiên Chúa, thì hôm nay, người mù bẩm sinh lại là hình ảnh phản chiếu tình trạng của chính dân Chúa.

Họ tưởng mình sáng mắt vì nắm giữ Lề Luật, nhưng lại mù loà tâm hồn để không nhận ra Thiên Chúa  hiện diễn nơi Đức Giêsu.

Thoạt nghe câu chuyện, người ta có thể đặt vấn đề: chỉ là một người mù được chữa lành, tại sao lại dẫn đến một cuộc điều tra, thẩm vấn, đối chất cha mẹ, rồi cuối cùng là trục xuất anh khỏi hội đường? Phản ứng gay gắt ấy cho thấy vấn đề không nằm ở việc chữa lành thể lý, nhưng ở chỗ biến cố ấy chạm đến những xác tín tôn giáo, những cơ cấu quyền lực và cách hiểu về Thiên Chúa đang chi phối đời sống cộng đồng. Vì thế, điều quan trọng không phải là mức độ chính xác của từng chi tiết, nhưng là sứ điệp mà trình thuật muốn chuyển tải qua câu chuyện “Chúa Giêsu chữa cho người mù bẩm sinh được sáng mắt”.

  1. Để công trình Thiên Chúa được tỏ hiện.

Khi thấy người mù, các môn đệ hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh ta hay cha mẹ anh ta, khiến anh ta sinh ra đã bị mù?” Câu hỏi ấy phản ánh một quan niệm phổ biến: bệnh tật là hậu quả của tội lỗi, hoặc của chính đương sự, hoặc của tổ tiên. Trong não trạng Do Thái, niềm tin rằng Thiên Chúa thưởng phạt đến ba bốn đời đã ảnh hưởng sâu rộng, dù các ngôn sứ từng lên tiếng điều chỉnh lối nghĩ “cha ăn nho xanh, con phải ê răng”. Đức Giêsu không trả lời theo hướng truy tìm nguyên nhân đạo đức của đau khổ. Người nói: “Không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội, nhưng để công trình Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” Như vậy, Người không chỉ bác bỏ lối quy kết giản đơn giữa tội và bệnh, mà còn mở ra một cách nhìn khác: con người, trong hoàn cảnh cụ thể của mình, có thể trở thành nơi Thiên Chúa biểu lộ chương trình cứu độ.

Từ đó, vấn đề không còn là “ai có lỗi”, nhưng là “Thiên Chúa muốn làm gì qua biến cố này”. Như vậy, Người vừa nhằm đánh tan quan niệm sai lầm của người Do Thái, vừa nhằm cho thấy vị trí và vai trò của từng nhân vị trong kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa. Cách đặt lại trọng tâm như thế giải thoát con người khỏi việc nhìn nhau bằng ánh mắt kết án. Đồng thời, nó mời gọi mỗi người nhận ra rằng đời mình, với những giới hạn và thử thách, không nằm ngoài kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa. Thực tế, chúng con vẫn dễ rơi vào não trạng cũ: khi thấy ai đó gặp bất hạnh,con  âm thầm đặt câu hỏi về lỗi lầm của họ; khi bản thân gặp thử thách, ta tự hỏi mình đã làm gì sai để bị “phạt”. Cách nghĩ ấy có thể dẫn đến việc dựng nên một Thiên Chúa nghiêm khắc theo khuôn mẫu của mình. Trong khi đó, Đức Giêsu mặc khải một Thiên Chúa hành động để cứu chữa và tỏ lộ tình thương. Nhìn như thế, con được mời gọi thay đổi cái nhìn: từ kết án sang tín thác, từ quy trách nhiệm sang tìm kiếm ý nghĩa trong ánh sáng đức tin.

  1. Một sự đối nghịch.

Từ việc chữa lành, trình thuật dần chuyển sang một cuộc đối chất. Ở đây xuất hiện một nghịch lý: người mù, vốn không được học hành, lại từng bước tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu; còn những người thông thạo Lề Luật lại không nhận ra Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến (x. Ga 9,30-33);. Ban đầu, anh chỉ biết “một người tên là Giêsu”. Sau khi bị thẩm vấn, anh khẳng định: “Người là một ngôn sứ.” Cuối cùng, khi gặp lại Đức Giêsu, anh tuyên xưng: “Lạy Ngài, tôi tin”, và sấp mình thờ lạy. Hành trình đức tin của anh song song với hành trình mở mắt: từ ánh sáng thể lý đến ánh sáng nội tâm.

Trái lại, những người Pharisêu càng điều tra càng khép kín. Họ bám vào lý do Đức Giêsu chữa bệnh trong ngày sabát để phủ nhận dấu lạ, để nhân cơ hội đó mà tìm cớ kết án Chúa Giêsu. Khi sự kiện không phù hợp với cách hiểu của họ, họ chọn cách loại trừ sự kiện ấy. Và chính anh mù cũng bị bị vạ lây, bị coi như là phạm nhân và bị trục xuất vì đã dám khẳng định về Đức Giêsu.   Đỉnh điểm là lời Đức Giêsu: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn! “ (Ga 9,41), chính sự ganh tị và tham vọng, nên họ đã không nhận ra và cố tình không nhận ra Đức Giêsu. Con mắt tâm hồn của họ ra mù tối. Vấn đề không phải ở sự thiếu hiểu biết, nhưng ở thái độ tự mãn. Khi một người khẳng định mình đã thấy đủ, đã hiểu đủ, họ không còn mở lòng đón nhận điều mới mẻ từ Thiên Chúa. Từ đó, việc chữa lành trở thành cái cớ để kết án, và người được chữa lành trở thành đối tượng bị loại trừ. Lịch sử cho thấy, khi quyền lợi và vị thế bị đe dọa, người ta có thể nhân danh luật lệ để bảo vệ mình, thay vì tìm kiếm sự thật.

Trình thuật vì thế không chỉ nói về một biến cố đã qua, nhưng soi chiếu vào đời sống hôm nay. Chúng con có thể giữ đạo, tham dự phụng vụ, hiểu giáo lý, nhưng vẫn có nguy cơ “mù” nếu không nhận ra Thiên Chúa đang hành động ngoài những khuôn khổ quen thuộc của mình. Ngược lại, một người đơn sơ, nếu dám trung thực với kinh nghiệm gặp gỡ Chúa, có thể bước vào ánh sáng đức tin. Chúa Nhật Laetare mời gọi chúng con vui mừng, không phải vì đã hoàn tất hành trình, nhưng vì được dẫn đi trong ánh sáng của Chúa. Câu chuyện người mù bẩm sinh nhắc chúng con rằng mọi biến cố, kể cả những điều con cho là bất hạnh, đều có thể trở thành nơi “kỳ công Chúa được tỏ hiện”. Điều cần thiết là dám để Chúa mở mắt mình: mở mắt để nhìn lại cách nghĩ về đau khổ, mở mắt để nhận ra sự hiện diện của Người, và mở mắt để tin.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói rằng: “Không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội, nhưng để công trình Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” Xin cho chúng con hiểu rằng đời mình, với tất cả những giới hạn, yếu đuối và cả những biến cố trái ý, không nằm ngoài chương trình yêu thương của Chúa.

Xin cho chúng con luôn nhìn nhận ra mọi nhân vị hay mọi biến cố xảy đến đều là công trình nhiệm mầu của Chúa, để chúng con tin tưởng và phó thác cho Ngài. Và xin cho mỗi ngày sống của chúng con, dù nhỏ bé, cũng trở thành nơi Chúa hành động, để qua đời sống, lời nói và chọn lựa của chúng con, kỳ công của Ngài được tỏ hiện cho mọi người.   Amen.

Hiền Lâm

Chia sẻ bài viết:

Youtube: “ĐỂ KỲ CÔNG CHÚA ĐƯỢC TỎ HIỆN”

Fanpace: Thân Hữu MTG Thủ Thiêm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *